Ti-mua và đồng đội (17)

Ti-mua vừa về đến nhà đã bị chú em gọi vào hỏi chuyện.

- Chú chán ngấy những chuyện đêm đêm đi rình mò của cháu lắm rồi đấy, - anh Ghê-oóc-ghi nói. - Chú chán cả những hiệu lệnh những chuông điện thoại và cả những mớ dây dợ nữa. Câu chuyện kỳ quặc về cái chăn chiên là như thế nào hả?

- Đó là một sự hiểu lầm.

- Một sự hiểu lầm thú vị đấy! Cháu đừng có bén mảng đến gần cái cô bé ấy nữa. Chị cô ta chẳng ưa gì cháu đâu.

- Tại sao?

- Không biết. Như vậy cũng là đáng thôi. Cháu viết giấy, viết tờ gì mà lạ vậy? Những cuộc hẹn hò kỳ quặc vào lúc tờ mờ sáng ấy là như thế nào? Chị Ôn-ga bảo là cháu toàn dạy cho nó toàn những trò du côn thôi.

- Chị ấy nói sai! - Ti-mua tức giận.- Thế mà cũng đòi là đoàn viên. Nếu chị ấy có điều gì chưa hiểu thì ít nhất chị ấy cũng có thể gọi cháu đến để mà hỏi chứ. Tất nhiên cháu sẽ trả lời cho chị ấy đầy đủ để chị ấy rõ.

- Được, nhưng chừng nào cháu còn chưa trả lời được cho người ta rõ thì chú cấm cháu không được bén mảng đến cái vườn nhà đó, còn nếu cháu cứ tự tiện thì chú sẽ gửi ngay cháu về với mẹ cháu!

Thấy chú định bỏ đi, Ti-mua ngăn lại:

- Chú ạ, hồi còn bé chú hay làm gì? Chơi trò gì?

- Chú ấy à?... Chạy, nhảy, trèo nóc nhà, cũng có khi đánh nhau. Nhưng mọi trò chơi đều giản đơn và dễ hiểu.

Để cho Giê-nhi-a một bài học, ngay chiều hôm đó Ôn-ga đã bỏ về thẳng Mát-xco-va, không thèm nói với em nửa lời.

Chẳng có việc gì cần phải làm ở Mát-xco-va nên Ôn-ga không về nhà ngay mà tạt qua nhà bạn ngồi chơi cho đến mười giờ tối mới về nhà. Chị mở cửa phòng, bật điện lên và giật mình thấy tờ điện báo ngay ở cửa. Ôn-ga xé ra đọc. Đó là bức điện của ba.

Đến chiều, khi những chiếc xe tải rời vườn hoa chạy toả đi khắp nơi thì Giê-nhi-a và Ta-nhi-a mới chạy về nhà. Các em bàn nhau chơi bóng chuyền. Giê-nhi-a phải vào nhà để thay dép.

Lúc em đang buộc dây giày thì người đàn bà - mẹ em bé tóc vàng bước vào. Em bé đang ngủ gật trên tay mẹ.

Nghe nói chị Ôn-ga vắng nhà bỗng nhiên mặt bà xịu xuống. Bà nói:

- Tôi định sang gửi em ở bên này. Tôi không biết là chị cô đã đi vắng... Đêm nay tàu sẽ đến Mát-xco-va mà tôi thì phải cấp tốc đi đón bà cụ.

- Cô cứ để em ở đây, - Giê-nhi-a nói. - Cứ gì phải chị Ôn-ga... Cháu không phải là người hay sao? Cô cứ đặt em vào giường cháu, cháu sẽ nằm sang chỗ khác.

- Em nó ngủ ngoan lắm, phải đến sáng mới thức giấc, - bà mẹ mừng rỡ. - Chỉ họa hoằn lắm mới phải sửa lại gối cho em một tí thôi.

Cô bé được thay quần áo và đặt vào giường. Bà mẹ đi khỏi. Giê-nhi-a vén bức rèm cửa sổ lên để đứng ngoài sân có thể nhìn được rõ giường em gái nhỏ đó ngủ. Em đóng cửa hành lang lại rồi chạy ra chơi bóng chuyền với Ta-nhi-a. Hai em hẹn nhau là cứ chơi một "séc" lại thay nhau chạy vào xem đứa bé ngủ có ngoan không.

Các em vừa đi khỏi thì bác đưa thư già đến. Bác ta gõ cửa khá lâu mà vẫn không thấy trả lời, đành phải sang nhà hàng xóm hỏi thăm xem có phải chủ nhà này đã bỏ về thành phố cả rồi không.

- Không, - ông hàng xóm trả lời, - tôi vừa mới thấy cô em ở nhà mà. Bác đưa tôi nhận điện cho.

Ông ta ký nhận điện bỏ túi, rồi ngồi xuống chiếc ghế kê ở trong vườn, nhồi thuốc vào tẩu, hút. Ông đợi Giê-nhi-a khá lâu.

Một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua. Bác đưa thư già lại đến gặp ông hàng xóm.

- Đây nữa này, - ông nói - chẳng hiểu có việc gì mà vội vã thế không biết. Bác nhận giúp cho bức điện nữa đây.

Ông hàng xóm lại ký nhận. Trời đã tối hẳn. Ông ta đi qua cổng bước lên bậc thềm rồi nhìn qua cửa sổ vào trong nhà. Đứa bé gái vẫn ngon giấc. Con mèo sắc hung nằm cuộn tròn bên chiếc gối của nó. Như vậy tức là chủ nhà vẫn chỉ quanh quẩn đâu đây.

Ông ta mở cánh cửa sổ con ra bỏ hai bức điện báo vào đấy. Hai bức điện nằm gọn gàng trên bậu cửa sổ. Như vậy là khi nào trở về thế nào Giê-nhi-a cũng phải trông thấy ngay. Nhưng Giê-nhi-a không trông thấy. Trở về nhà trong ánh sáng trăng, em chỉ sửa lại gối cho em bé, đẩy con mèo ra chỗ khác rồi cởi quần áo và đi ngủ.

Em nằm một lúc lâu suy nghĩ, mới thấy cuộc đời hóa ra lại như vậy. Em chẳng có tội lỗi gì và hình như cả chị Ôn-ga cũng vậy. Thế mà lần đầu tiên hai chị em lại sinh sự giận nhau ghê gớm.

Thật bực mình. Không sao chợp mắt ngủ được nữa. Tự nhiên Giê-nhi-a muốn ăn bánh phết mứt. Em nhỏm dậy, bước lại tủ, bật đèn. Và mãi tới lúc này em mới chợt trông thấy hai bức điện trên bậu cửa sổ. Em hoảng hốt. Đôi tay run run bóc điện. Em đọc.

Bức điện thứ nhất viết:
"Sẽ qua nhà đêm nay từ mười hai giờ đến ba giờ sáng, đợi ở nhà trong thành phố. Ba".

Bức điện thứ hai:
"Về ngay đêm nay, ba sẽ ở nhà. Ôn-ga".

Giê-nhi-a hoảng hốt nhìn đồng hồ. Đã mười hai giờ kém mười lăm rồi. Em mặc vội áo vào, bế xốc đứa bé đang ngủ lên, chạy thộc ra cửa như người bị mất trí. Sực tỉnh ra, em lại đặt em bé trở lại giường. Em lao ra phố và chạy thẳng tới nhà bà lão bán sữa. Em đấm tay, đạp chân vào cửa, mãi cho tới khi bà hàng xóm ló đầu ra cửa sổ.

- Đập cái gì thế? -bà ta hỏi, giọng ngái ngủ. - Làm gì mà hét lên thế?

- Cháu không hét đâu. - Giê-nhi-a khẩn khoản. - Cháu cần gặp bác bán sữa, bác Ma-sa ấy mà. Cháu nhờ bác ấy trông giúp cho đứa bé.

- Nói năng gì mà vớ vẩn thế? - bà hàng xóm vừa trả lời vừa đóng sập cửa lại, - bà ấy sang thăm người em bên làng từ sáng sớm rồi.

Có tiếng còi tàu vọng lại từ phía ga. Giê-nhi-a vừa chạy ra đường thì va ngay phải ông già lịch thiệp tóc bạc. Đó là ông bác sĩ.

-Cháu xin lỗi cụ ạ! - em lúng túng nói. - Cụ có biết đó là tiếng còi tàu nào không?

Ông già lịch thiệp rút đồng hồ ra xem.

- Hai mươi ba giờ năm mươi lăm phút, - ông cụ trả lời, - đó là chuyến tàu cuối cùng đi Mát-xco-va trong ngày hôm nay.

- Sao lại cuối cùng ạ? - Giê-nhi-a nuốt nước mắt, nói không ra lời. - Thế chuyến tới thì vào lúc mấy giờ ạ?

- Chuyến sau vào buổi sáng, ba giờ bốn mươi. Cô bé có chuyện gì thế? - ông lão nắm lấy đôi vai đang rung lên của Giê-nhi-a lo lắng hỏi. - Cháu khóc à? Liệu ta có thể giúp được cháu việc gì không?

- Không đâu ạ! - Giê-nhi-a cố ghìm để không bật lên khóc rồi vừa bỏ chạy đi, vừa trả lời. - Bây giờ thì chẳng có ai trên đời này có thể giúp cháu được nữa rồi!

Về nhà em gục đầu lên gối, nhưng lại bật dậy chạy đến chỗ đứa bé đang ngủ nhìn nó đầy căm tức. Sực tỉnh ra em bèn sửa lại chăn cho em bé, đẩy con mèo sắc hung ra khỏi gối.

Em bật đèn ngoài hành lang, trong bếp, trong phòng rồi ngồi xuống đi-văng lắc đầu lia lịa. Em cứ ngồi như thế một lúc lâu, nhưng có lẽ đầu óc không nghĩ nổi một việc gì. Tự nhiên em khoác cây đàn phong cầm lên vai. Cây đàn này để lay lắt ở ngay đó. Em nâng đàn lên một cách máy móc và đưa tay lần phím đàn. Một điệu nhạc khe khẽ vang lên trang nghiêm và buồn buồn. Giê-nhi-a đặt đàn xuống, bước lại gần cửa sổ. Đôi vai em rung lên.

Không! Em không tài nào có đủ sức để chịu đựng nổi sự đau khổ một mình như thế này được. Em đốt nến rồi chạy qua vườn đến nhà kho.

Đây là gác xép. Dây, bản đồ, bao tải, cờ. Em bật đèn hiệu, bước lại gần buồng lái, tìm sợi dây cần thiết mắc vào tay quay quay thật mạnh.

...Ti-mua đang ngủ ngon thì con chó Ri-ta chạy đến lấy chân đập nhẹ vào vai em. Em chẳng hề hay biết gì cả. Ri-ta thấy vậy bèn lấy răng cắn mép chăn lôi tụt xuống sàn. Ti-mua choàng dậy.

- Mày đấy à, Ri-ta, - em sửng sốt hỏi. - Có chuyện gì thế?

Con chó nhìn thẳng vào mặt em, ve vẩy đuôi, mấp máy cái mõm. Ti-mua chợt nghe thấy tiếng chuông đồng rung lên ở phía ngoài.

Em chạy ra hành lang chưa hiểu ra là ai lại cần đến mình giữa đêm hôm khuya khoắt này. Ti-mua nhấc ống nghe lên.

- Phải rồi, tôi Ti-mua đang đứng bên máy đây. Ai đấy? Cậu... cậu đấy à, Giê-nhi-a đấy à?
Thoạt đầu Ti-mua nghe còn có vẻ bình tĩnh, nhưng sau bỗng môi em run lên. Trên mặt em những vệt đỏ cứ nổi dần lên. Em thở gấp không đều nhịp.

- Chỉ có ba tiếng đồng hồ thôi à? - em lo lắng hỏi Giê-nhi-a. - Giê-nhi-a ơi, cậu khóc đấy à? Mình nghe thấy cậu khóc đấy. Không được thế! Không nên đâu! Mình sẽ đến ngay bây giờ đây...

Ti-mua mắc ống nghe trở lại, giật vội bảng giờ tàu ở trên giá xuống.

- Phải rồi, chuyến tàu cuối cùng chạy vào lúc hai mươi ba giờ năm mươi lăm. Chuyến sau sẽ chạy vào lúc ba giờ bốn mươi phút sáng. - Em cắn môi đứng im. - Muộn rồi! Chẳng lẽ không còn cách nào khác nữa hay sao? Không! Chậm mất rồi!

Nhưng ngôi sao đỏ ngày và đêm vẫn đang rực cháy trên cánh cổng nhà Giê-nhi-a. Chính em đã đốt lên ngôi sao ấy bằng chính tay mình. Và những ánh sao vừa thẳng thắn, vừa nhọn ấy vẫn sáng rực, nhấp nháy trước mắt em.

Con gái vị chỉ huy gặp chuyện không may. Con gái vị chỉ huy bất ngờ bị rơi vào vòng vây.

Em vội mặc quần áo chạy ra đường. Và chỉ trong vài phút sau em đã có mặt trên thềm nhà của con người lịch thiệp có mái tóc bạc. Trong phòng làm việc của bác sĩ vẫn còn đèn.

Ti-mua gõ cửa. Người trong nhà ra mở cửa cho em.

- Cậu cần gặp ai? - con người lịch thiệp ngạc nhiên hỏi em, giọng khô khan.

- Cháu xin gặp ông ạ, - Ti-mua trả lời.

- Gặp ta à? - ông già lịch thiệp suy nghĩ rồi đưa tay mở rộng cửa ra, nói: - Nếu vậy thì... xin mời vào!

Hai người gặp nhau chóng vánh.

- Đó là tất cả những việc mà chúng cháu làm, - mắt Ti-mua long lanh, em kết thúc câu chuyện, - đó là tất cả những gì mà chúng cháu đã làm như một trò chơi và vì sao cháu lại cần được gặp Cô-li-a của ông lúc này.

Ông lão im lặng đứng lên. Cụ đưa tay nhanh nhẹn nắm lấy cằm Ti-mua, nâng mặt em lên mà nhìn thẳng vào tận mắt em, rồi đi ra.

Cụ vào phòng Cô-li-a, lay vai cháu.

- Dậy, cháu ơi! - ông cụ nói. - Có người đến tìm cháu đấy.

- Nhưng cháu có biết gì đâu ạ, - Cô-li-a hoảng hốt mở to mắt ra, nói với ông. - Ông ơi, cháu chẳng biết chuyện gì đâu. Thật đấy, ông ạ.

- Dậy đi cháu, - con người lịch thiệp giọng khô khan nhắc lại, - bạn cháu đến tìm cháu đấy.

...Giê-nhi-a ngồi bó gối trên đống rơm ở gác xép nhà kho. Em đang đợi Ti-mua đến. Nhưng bỗng em lại thấy cái đầu bù của Cô-li-a thò vào qua lỗ hổng trên cửa sổ, chứ không phải là Ti-mua.

- Cậu đấy à, Cô-li-a, - Giê-nhi-a ngạc nhiên. - Cậu cần gì thế?

- Tớ cũng chẳng biết nữa, - Cô-li-a sợ sệt trả lời khe khẽ, - Tớ đã đi ngủ rồi. Thấy cậu ấy đến gọi. Tớ tỉnh dậy. Cậu ấy bảo tớ và cậu đi ra cổng.

- Để làm gì?

- Tớ cũng chẳng biết nữa. Đầu tớ đang kêu o o lên đây này. Giê-nhi-a à, tớ chẳng biết gì đâu.

(...)

Chưa có bạn nào ý kiến ý cò gì cả (không tính facebook).

Giơ tay bi bô phát biểu bằng nick Google, WordPress...

Bi bô bằng nick facebook, Yahoo...